Đặt vấn đề
Có một câu nghe rất hợp lý:
Vô hạn là vô hạn. Đã không có điểm cuối thì còn to nhỏ cái gì nữa?
Giống như hỏi:
- Con rồng vô hạn dài bao nhiêu mét?
- Một cái hố không đáy sâu hơn một cái hố không đáy khác bằng cách nào?
- Hai đứa đều ăn kẹo mãi mãi thì đứa nào ăn nhiều hơn?
Nghe hơi ngáo.
Nhưng cuối thế kỷ XIX, Georg Cantor nhìn thẳng vào cái thứ mà hàng nghìn năm con người thường né bằng một câu rất tiện:
“Nó vô hạn.”
Rồi ông hỏi một câu nguy hiểm:
“Khoan. Hai cái vô hạn này có thật sự bằng nhau không?”
Và từ câu hỏi tưởng như trẻ con ấy, toán học bị bẻ cong.
Cantor phát hiện rằng có những tập hợp chứa vô hạn phần tử nhưng vẫn có thể xem là cùng kích thước, trong khi có những tập hợp khác cũng vô hạn nhưng lại lớn hơn thật sự.
Không phải lớn hơn một chút.
Không phải thêm vài tỷ tỷ phần tử.
Mà lớn đến mức cho dù bạn đếm mãi mãi, sống mãi mãi, có một cái máy tính chạy mãi mãi, bạn vẫn không thể lập danh sách hết chúng.
Có thể hình dung lý thuyết Cantor như một cầu thang kỳ quái: leo qua một tầng vô hạn, phía trên vẫn còn một tầng vô hạn lớn hơn.
Muốn so hai cái vô hạn, trước tiên phải quên chuyện đếm
Giả sử trước mặt mình có hai đống kẹo.
Đống A:
1🍬 🍬 🍬 🍬
Đống B:
1🍭 🍭 🍭 🍭
Một đứa trẻ sáu tuổi có thể đếm:
14 = 4
Nhưng Cantor cho chúng ta một cách khác.
Không cần đếm.
Chỉ cần ghép:
1🍬 ↔ 🍭
2🍬 ↔ 🍭
3🍬 ↔ 🍭
4🍬 ↔ 🍭
Nếu mỗi viên bên A bắt cặp với đúng một viên bên B, không thừa, không thiếu, ta nói hai tập hợp có cùng lực lượng hay cardinality.
Với tập hữu hạn thì việc này chẳng có gì đáng nói.
Nhưng đem trò trẻ con ấy sang thế giới vô hạn, mọi chuyện bắt đầu bốc khói.
Một nửa của vô hạn vẫn bằng cả vô hạn
Xét tập số tự nhiên:
$$ \mathbb{N} = {1,2,3,4,5,6,\ldots} $$
và tập số chẵn:
$$ E = {2,4,6,8,10,12,\ldots} $$
Trực giác hét lên:
“Số chẵn chỉ chiếm một nửa số tự nhiên.”
Đúng nếu chúng ta đang nói về 100 số đầu tiên.
Nhưng với cả tập vô hạn thì thử ghép:
$$ 1 \leftrightarrow 2 $$
$$ 2 \leftrightarrow 4 $$
$$ 3 \leftrightarrow 6 $$
$$ 4 \leftrightarrow 8 $$
Tổng quát:
$$ n \leftrightarrow 2n $$
Mỗi số tự nhiên có đúng một số chẵn.
Và mỗi số chẵn cũng có đúng một số tự nhiên đứng đối diện nó.
Không ai bị bỏ lại.
Do đó:
$$ |\mathbb{N}| = |E| $$
Đây là một trong những khoảnh khắc mà trực giác hữu hạn của con người bắt đầu trượt chân.
Tập:
11, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, ...
có cùng kích thước với:
12, 4, 6, 8, 10, 12, 14, 16, ...
mặc dù tập thứ hai nằm hoàn toàn bên trong tập thứ nhất.
Ở thế giới hữu hạn, chuyện này không thể xảy ra.
Một cái hộp có 10 viên bi không thể chứa một cái hộp con cũng có 10 viên bi nếu bên ngoài hộp con vẫn còn bi.
Nhưng vô hạn không chơi theo luật ấy.
Nó giống một con trăn toán học tự nuốt mất nửa cơ thể mình rồi vẫn dài đúng như cũ.
Khách sạn vô hạn: hết phòng nhưng vẫn nhận khách
David Hilbert sau này phổ biến một ví dụ rất đẹp để diễn tả kiểu hành xử này.
Giả sử có một khách sạn với vô hạn phòng:
1Phòng 1
2Phòng 2
3Phòng 3
4Phòng 4
5...
Tất cả đều đang có khách.
Một người mới xuất hiện.
Ở khách sạn bình thường, lễ tân sẽ nói:
Hết phòng anh ơi.
Nhưng đây là khách sạn vô hạn.
Lễ tân bảo:
1Khách phòng 1 → phòng 2
2Khách phòng 2 → phòng 3
3Khách phòng 3 → phòng 4
4...
Tổng quát:
$$ n \rightarrow n+1 $$
Thế là phòng số 1 trống.
Một khách sạn đã kín toàn bộ vô hạn phòng vẫn nhét thêm được một người.
Thậm chí nếu một chiếc xe buýt chở vô hạn người tới, vẫn xử lý được.
Chuyển:
$$ n \rightarrow 2n $$
Khách cũ vào các phòng chẵn:
12, 4, 6, 8, ...
Khách mới vào các phòng lẻ:
11, 3, 5, 7, ...
Xong.
Quá dễ.
Ở đây ta gặp kích thước vô hạn nhỏ nhất, được Cantor ký hiệu:
$$ \aleph_0 $$
đọc là aleph-zero.
Đây là cardinality của tập số tự nhiên và của mọi tập vô hạn có thể đánh số thành một danh sách:
$$ a_1,a_2,a_3,\ldots $$
Những tập như vậy được gọi là vô hạn đếm được (countably infinite). (Stanford Encyclopedia of Philosophy)
Số nguyên tưởng nhiều hơn nhưng vẫn chỉ là $\aleph_0$
Tập số nguyên:
$$ \mathbb{Z}
{\ldots,-3,-2,-1,0,1,2,3,\ldots} $$
trông có vẻ phải lớn hơn số tự nhiên.
Nó có:
- số dương,
- số âm,
- thêm cả số 0.
Nhưng ta có thể xếp chúng thành hàng:
10
21
3-1
42
5-2
63
7-3
84
9-4
10...
Hay:
$$ 0,1,-1,2,-2,3,-3,\ldots $$
Vẫn đánh được số thứ tự:
1người số 1
2người số 2
3người số 3
4...
Do đó:
$$ |\mathbb{Z}| = |\mathbb{N}| = \aleph_0 $$
Thêm cả một phía âm vô tận vào tập số tự nhiên vẫn không làm kích thước vô hạn tăng lên.
Nghe như ta vừa đổ cả đại dương vào đại dương, nhưng mực nước không nhúc nhích.
Số hữu tỷ còn đông kinh khủng hơn
Tiếp tục với số hữu tỷ:
$$ \mathbb{Q} $$
Đây là các số viết được dưới dạng:
$$ \frac{p}{q} $$
với $p,q$ là số nguyên và $q\neq0$.
Giữa 0 và 1 đã có:
$$ \frac12,\frac13,\frac14,\frac15,\ldots $$
Giữa $\frac12$ và $\frac13$ lại có thêm vô hạn số khác.
Nhìn vào trục số, các phân số dày đặc như bụi.
Chọc ngón tay vào bất kỳ khe nào cũng gặp vô hạn phân số.
Có vẻ như:
“Thằng này chắc chắn phải to hơn $\mathbb{N}$.”
Nhưng không.
Ta có thể hình dung các phân số dương như một bảng:
| $q=1$ | $q=2$ | $q=3$ | $q=4$ | |
|---|---|---|---|---|
| $p=1$ | $1/1$ | $1/2$ | $1/3$ | $1/4$ |
| $p=2$ | $2/1$ | $2/2$ | $2/3$ | $2/4$ |
| $p=3$ | $3/1$ | $3/2$ | $3/3$ | $3/4$ |
| $p=4$ | $4/1$ | $4/2$ | $4/3$ | $4/4$ |
Rồi đi theo đường chéo:
11/1
21/2
32/1
43/1
52/2
61/3
71/4
82/3
93/2
104/1
11...
Bỏ những phân số trùng giá trị như:
$$ \frac12 = \frac24 = \frac36 $$
thì cuối cùng mọi số hữu tỷ vẫn sẽ xuất hiện ở một vị trí hữu hạn nào đó trong danh sách.
Do đó:
$$ |\mathbb{Q}|=\aleph_0 $$
Đây là điều khá kinh dị.
Số tự nhiên nhìn thưa thớt:
11-------2-------3-------4
Còn số hữu tỷ chen kín giữa chúng.
Nhưng xét về cardinality, hai tập vẫn bằng nhau.
Và rồi số thực bước vào phòng
Bây giờ xét tập số thực:
$$ \mathbb{R} $$
Bao gồm:
- số nguyên,
- phân số,
- $\sqrt2$,
- $\pi$,
- $e$,
- và mọi số nằm trên trục số.
Cantor hỏi:
Liệu ta có thể lập danh sách tất cả số thực giống như số tự nhiên không?
Ví dụ chỉ xét các số từ 0 đến 1.
Giả sử có thể.
Ta lập một danh sách:
11 → 0.1415926535...
22 → 0.7182818284...
33 → 0.3333333333...
44 → 0.1010010001...
55 → 0.7823459812...
6...
Nếu mọi số thực đều có trong danh sách này, vậy là:
$$ |\mathbb{R}|=\aleph_0 $$
Nhưng Cantor chơi một trò cực kỳ đơn giản.
Và trò này giết chết toàn bộ giả định.
Đường chéo Cantor
Lấy chữ số thứ nhất của số thứ nhất.
Lấy chữ số thứ hai của số thứ hai.
Lấy chữ số thứ ba của số thứ ba.
…
Ta có đường chéo:
10.1.........
20..1........
30...3.......
40....0......
50.....4.....
6 ↑
Bây giờ tạo một số mới.
Quy tắc rất đơn giản:
- nếu chữ số trên đường chéo là
1, chọn2; - nếu nó khác
1, chọn1.
Giả sử ta thu được:
10.21112...
Số mới này có một tính chất ma quái.
Nó khác số thứ nhất ở chữ số thứ nhất.
Nó khác số thứ hai ở chữ số thứ hai.
Nó khác số thứ ba ở chữ số thứ ba.
…
Nói chung, với số thứ $n$, nó khác ở chữ số thứ $n$.
Do đó số mới không thể bằng bất kỳ số nào trong danh sách.
Nhưng lúc đầu ta tuyên bố:
Đây là danh sách chứa TẤT CẢ số thực từ 0 đến 1.
Mâu thuẫn.
Cho dù bạn đưa cho Cantor bất kỳ danh sách vô hạn nào, ông vẫn có thể nhìn vào đường chéo và chế tạo một số không nằm trong danh sách đó.
Đây là lập luận đường chéo Cantor (Cantor’s diagonal argument), một trong những chứng minh nổi tiếng nhất của toán học. (MathWorld)
Ta đi dọc đường chéo rồi đổi từng chữ số. Số mới được tạo ra chắc chắn khác mọi hàng trong bảng ít nhất một vị trí.
Kết luận:
$$ |\mathbb{R}|>|\mathbb{N}| $$
Cả hai đều vô hạn.
Nhưng số thực có một kích thước vô hạn lớn hơn.
Đây chính là lúc câu:
“Vô hạn là vô hạn.”
chết một cách khá trang trọng.
Đếm được và không đếm được
Từ đây ta có hai thế giới.
Vô hạn đếm được
Các tập như:
$$ \mathbb{N} $$
$$ \mathbb{Z} $$
$$ \mathbb{Q} $$
đều có cardinality:
$$ \aleph_0 $$
Nghĩa là về nguyên tắc ta có thể xếp các phần tử thành:
11
22
33
44
55
6...
Danh sách không bao giờ kết thúc.
Nhưng mỗi phần tử cụ thể sẽ xuất hiện ở một vị trí hữu hạn nào đó.
Vô hạn không đếm được
Số thực lại khác.
Không tồn tại danh sách:
$$ r_1,r_2,r_3,\ldots $$
chứa mọi số thực.
Cardinality của continuum thường được ký hiệu:
$$ \mathfrak{c} $$
và:
$$ \mathfrak{c}=|\mathbb{R}|=2^{\aleph_0} $$
đồng thời:
$$ \mathfrak{c}>\aleph_0 $$
(Stanford Encyclopedia of Philosophy)
Nhưng Cantor chưa chịu dừng
Đến đây đã đủ đau đầu.
Nhưng Cantor hỏi tiếp:
Có vô hạn nào còn lớn hơn số thực không?
Có.
Và đây mới là đoạn thực sự ngáo.
Giả sử ta có một tập $S$.
Ta tạo power set:
$$ \mathcal{P}(S) $$
là tập chứa tất cả tập con của $S$.
Ví dụ:
$$ S={a,b,c} $$
thì:
$$ \mathcal{P}(S)
{ \emptyset, {a}, {b}, {c}, {a,b}, {a,c}, {b,c}, {a,b,c} } $$
$S$ có:
$$ 3 $$
phần tử.
Power set có:
$$ 2^3=8 $$
phần tử.
Tổng quát:
$$ |\mathcal{P}(S)|=2^{|S|} $$
Cantor chứng minh rằng với mọi tập $S$:
$$ |\mathcal{P}(S)|>|S| $$
Điều này vẫn đúng ngay cả khi $S$ vô hạn. (MathWorld)
Cho:
$$ S=\mathbb{N} $$
ta được:
$$ |\mathcal{P}(\mathbb{N})|
2^{\aleph_0} $$
và:
$$ 2^{\aleph_0}>\aleph_0 $$
Mà thú vị hơn:
$$ |\mathbb{R}|=|\mathcal{P}(\mathbb{N})| $$
nên:
$$ |\mathbb{R}|=2^{\aleph_0} $$
Không tồn tại “vô hạn lớn nhất”
Đây có lẽ là phần đẹp nhất.
Giả sử ai đó tuyên bố:
Tôi đã tìm được tập hợp lớn nhất có thể tồn tại.
Gọi nó là $S$.
Cantor chỉ cần nói:
Đưa đây.
Rồi tạo:
$$ \mathcal{P}(S) $$
Theo định lý Cantor:
$$ |\mathcal{P}(S)|>|S| $$
Thế là cái được gọi là “lớn nhất” lập tức bị một thứ lớn hơn đè đầu.
Ta lại lấy power set lần nữa:
$$ \mathcal{P}(\mathcal{P}(S)) $$
rồi:
$$ \mathcal{P}(\mathcal{P}(\mathcal{P}(S))) $$
Cứ tiếp tục.
Nếu bắt đầu bằng:
$$ \aleph_0 $$
ta có một chuỗi:
$$ \aleph_0 < 2^{\aleph_0} < 2^{2^{\aleph_0}} < 2^{2^{2^{\aleph_0}}} < \cdots $$
Mỗi tầng đã vô hạn.
Nhưng tầng trên vẫn lớn hơn.
Không có vị vua cuối cùng của vô hạn.
Không có con quái vật cuối map.
Mỗi khi bạn tưởng mình đã đi đến chân trời cuối cùng, toán học dựng thêm một chân trời phía sau nó.
Aleph: những cái tên dành cho kích thước vô hạn
Cantor dùng chữ Hebrew aleph để ký hiệu các cardinal vô hạn.
Nhỏ nhất là:
$$ \aleph_0 $$
Sau đó là cardinal vô hạn nhỏ nhất lớn hơn nó:
$$ \aleph_1 $$
rồi:
$$ \aleph_2 $$
$$ \aleph_3 $$
…
và câu chuyện tiếp tục rất xa:
$$ \aleph_\omega $$
$$ \aleph_{\omega+1} $$
…
Các cardinal vô hạn tạo thành cả một hệ thống phân cấp chứ không phải một con số duy nhất. (Stanford Encyclopedia of Philosophy)
Nhưng có một câu hỏi rất tự nhiên.
Ta biết:
$$ \aleph_0 < |\mathbb{R}| $$
Vậy:
$$ |\mathbb{R}| $$
có phải chính là:
$$ \aleph_1 $$
không?
Hay giữa chúng còn một kích thước vô hạn khác?
Continuum Hypothesis: cái hố sâu ở giữa hai vô hạn
Cantor đưa ra giả thuyết:
$$ 2^{\aleph_0}=\aleph_1 $$
Nói bằng tiếng người:
Không tồn tại cardinal nào nằm giữa kích thước của số tự nhiên và kích thước của số thực.
Đây được gọi là Giả thuyết continuum (Continuum Hypothesis – CH).
Hilbert sau này đặt nó thành bài toán số 1 trong danh sách các bài toán nổi tiếng của mình. (Stanford Encyclopedia of Philosophy)
Và chuyện sau đó còn kỳ quái hơn.
Trong thế kỷ XX, Kurt Gödel và Paul Cohen chỉ ra rằng, nếu hệ tiên đề ZFC nhất quán, thì Continuum Hypothesis không thể được chứng minh cũng không thể bị bác bỏ chỉ từ các tiên đề ZFC.
Nghĩa là ta có thể xây dựng những thế giới toán học phù hợp với ZFC nơi:
$$ 2^{\aleph_0}=\aleph_1 $$
và cũng có những thế giới phù hợp với ZFC nơi:
$$ 2^{\aleph_0}\neq\aleph_1 $$
Ở đây toán học bắt đầu có mùi triết học khá nặng.
Ta không còn chỉ hỏi:
Đáp án là gì?
Mà phải hỏi:
Đáp án dưới hệ tiên đề nào?
Một cú đấm sang khoa học máy tính
Cantor sống trước thời ChatGPT, GPU và Kubernetes rất lâu.
Nhưng ý tưởng của ông chạm thẳng vào khoa học máy tính.
Giả sử một chương trình máy tính được viết bằng một chuỗi ký tự hữu hạn.
Ví dụ:
1print(3.1415926535)
Mọi chương trình hữu hạn có thể mã hóa thành một số tự nhiên.
Do đó tập tất cả chương trình hữu hạn chỉ là đếm được.
Cardinality của chúng nhiều nhất là:
$$ \aleph_0 $$
Nhưng tập số thực có cardinality:
$$ 2^{\aleph_0} $$
và:
$$ 2^{\aleph_0}>\aleph_0 $$
Thế nên số chương trình máy tính ít hơn số thực.
Rất ít hơn.
Hệ quả cực kỳ thú vị:
Phần lớn số thực không thể được một chương trình hữu hạn nào mô tả hoặc tính ra chính xác.
Các số quen thuộc như:
$$ \pi $$
$$ e $$
$$ \sqrt2 $$
có thuật toán để tạo ra chữ số của chúng.
Nhưng nếu ném một mũi phi tiêu toán học ngẫu nhiên vào trục số thực, xác suất bạn trúng một số có thể tính được (computable number), theo nghĩa đo chuẩn, bằng:
$$ 0 $$
Không phải vì máy tính hiện tại yếu.
Không phải mua thêm GPU là được.
Không phải “đợi đời H200 tiếp theo”.
Mà bởi vì số lượng chương trình có thể tồn tại đã quá ít so với số thực.
Có những bức tường không nằm trong silicon.
Chúng nằm ngay trong cấu trúc của toán học.
Cardinal và ordinal không phải cùng một thứ
Ở đây có một chỗ rất dễ nhầm.
Cantor nghiên cứu cả:
- cardinal number
- ordinal number
Cardinal trả lời:
Có bao nhiêu?
Ordinal trả lời:
Thứ tự như thế nào?
Ví dụ:
1A → B → C
và:
1C → B → A
có cùng cardinality:
$$ 3 $$
nhưng thứ tự khác nhau.
Trong thế giới vô hạn, sự khác biệt này trở nên rất quan trọng.
Ví dụ ordinal đầu tiên sau mọi số tự nhiên hữu hạn thường ký hiệu:
$$ \omega $$
Nhưng:
$$ \omega + 1 $$
và:
$$ 1+\omega $$
không nhất thiết giống nhau về ordinal.
Trong khi xét cardinality, cả hai vẫn chỉ có kích thước:
$$ \aleph_0 $$
Ở bài viết này mình chỉ tập trung vào cardinality, tức kích thước của vô hạn. Ordinal xứng đáng có một bài riêng vì nó lại mở thêm một cái hang thỏ khác.
Điều Cantor thực sự thay đổi
Trước Cantor, vô hạn thường giống một màn sương.
Người ta có thể nói:
11, 2, 3, 4, ...
và bảo:
cứ thế mãi mãi.
Cantor làm một việc khác.
Ông biến vô hạn thành một đối tượng mà ta có thể:
- so sánh,
- phân loại,
- chứng minh lớn nhỏ,
- thực hiện các phép toán,
- xây dựng cả một hệ thống phân cấp.
Đó là bước chuyển rất lớn.
Vô hạn không còn chỉ là:
“Một quá trình không bao giờ kết thúc.”
Nó trở thành thứ toán học có thể cầm lên bàn mổ.
Một hình ảnh cuối cùng
Hãy tưởng tượng bạn đang đứng trước một thư viện.
Thư viện thứ nhất có một cuốn sách cho mỗi số tự nhiên:
11
22
33
44
55
6...
Nó kéo dài mãi mãi.
Bạn đi cả đời cũng không thấy bức tường cuối.
Bạn tưởng:
Chắc chẳng có thư viện nào lớn hơn được nữa.
Rồi Cantor mở cánh cửa bên cạnh.
Ở đó là thư viện số thực.
Nó lớn đến mức không tồn tại cách đánh số các cuốn sách bằng:
11, 2, 3, 4, ...
Bạn còn chưa kịp hoàn hồn thì ông lại mở cửa tiếp theo:
$$ \mathcal{P}(\mathbb{R}) $$
Lớn hơn nữa.
Rồi:
$$ \mathcal{P}(\mathcal{P}(\mathbb{R})) $$
Lớn hơn nữa.
Cửa sau cửa.
Vô hạn sau vô hạn.
Cho đến khi ta nhận ra một điều khá đẹp:
Vô hạn không phải nơi con số kết thúc.
Vô hạn là nơi một loại toán học khác bắt đầu.
Tổng kết
Ý tưởng quan trọng nhất trong lý thuyết Cantor không phải là học thuộc ký hiệu $\aleph_0$.
Nó là cách Cantor đặt câu hỏi.
Hai tập hợp có cùng kích thước nếu ta có thể ghép từng phần tử của chúng theo kiểu một-một.
Từ đó ta phát hiện:
$$ |\mathbb{N}|
|\mathbb{Z}|
|\mathbb{Q}|
\aleph_0 $$
nhưng:
$$ |\mathbb{R}|>\aleph_0 $$
và với mọi tập $S$:
$$ |\mathcal{P}(S)|>|S| $$
Do đó không tồn tại một “vô hạn lớn nhất”.
Có vô hạn nhỏ.
Có vô hạn lớn hơn.
Và phía trên cái lớn hơn ấy vẫn còn những vô hạn khác đang ngồi chờ.
Một đứa trẻ hỏi:
“Vô hạn cộng một bằng bao nhiêu?”
Một người lớn có thể cười.
Cantor có lẽ sẽ kéo ghế lại, lấy giấy ra và nói:
“Câu hỏi hay đấy. Nhưng trước tiên, cháu phải nói cho ta biết cháu đang nói về loại vô hạn nào.”
Cảm ơn các bạn đã quan tâm và theo dõi bài viết, hẹn gặp lại ở các bài viết tiếp theo.
Tham khảo
- Stanford Encyclopedia of Philosophy, Infinity. Infinity – Stanford Encyclopedia of Philosophy
- Stanford Encyclopedia of Philosophy, The Early Development of Set Theory. The Early Development of Set Theory
- Wolfram MathWorld, Cantor Diagonal Method. Cantor Diagonal Method – MathWorld
- Wolfram MathWorld, Aleph-0. Aleph-0 – MathWorld
Bình luận